Đá tháng sinh là một tập quán văn hoá: mỗi tháng trong năm được gắn với một hoặc vài loại đá, và người sinh tháng đó chọn loại đá ấy để đeo hay để tặng. Đây không phải tính chất của khoáng vật, cũng không phải một quy định khoa học. Danh sách đá do con người lập ra, được sửa nhiều lần, và hiện có ít nhất hai bản phổ biến: bản truyền thống và bản hiện đại do giới kim hoàn Mỹ công bố.
Vì có nhiều bản, cùng một tháng bạn có thể đọc thấy hai, ba tên đá khác nhau mà không bên nào “sai”. Bài này kể ngắn gọn danh sách đến từ đâu, các bản khác nhau ở điểm nào, và cách dùng danh sách cho việc thực tế nhất: chọn một món trang sức đá màu đeo được lâu. Bài không bàn công dụng của đá, vì đá tháng sinh ở đây được hiểu như một phong tục, giống hoa tháng sinh hay quà theo dịp.
Đá tháng sinh hiểu đúng là gì
Hiểu gọn, đá tháng sinh là một bảng quy ước: tháng 1 là garnet, tháng 2 là thạch anh tím, tháng 7 là ruby, tháng 9 là sapphire, và cứ thế đủ mười hai tháng. Người phương Tây dùng bảng này chủ yếu để chọn quà sinh nhật, nhẫn kỷ niệm hay mặt dây có viên đá của người được tặng. Ở Việt Nam, khái niệm này đến chủ yếu qua các tiệm trang sức, mạng xã hội và hàng nhập, nên người mua thường gặp nó ở dạng một bảng in sẵn hơn là một tập quán có từ đời ông bà.
Điểm cần tách bạch ngay từ đầu: đá tháng sinh là chuyện văn hoá, còn độ cứng, độ bền hay cách giữ gìn viên đá là chuyện khoáng vật. Bảng đá không cân nhắc viên đá có hợp đeo hằng ngày hay không. Opal của tháng 10 hay ngọc trai của tháng 6 khá mềm, còn sapphire của tháng 9 thì rất cứng. Vì vậy dùng bảng đá để chọn loại đá thì được, nhưng chọn kiểu món và cách đeo vẫn phải dựa vào tính chất thật của từng loại.
Đá tháng sinh cũng khác với cách chọn đá theo ngũ hành hay theo năm sinh âm lịch mà một số người Việt quen nghe. Hai cách đó xuất phát từ hai hệ quan niệm khác nhau và không trùng danh sách. Trang này chỉ viết về đá tháng sinh như một tập quán trang sức.
Từ mười hai viên đá cổ đến thói quen đeo đá theo tháng
Câu chuyện thường được kể về nguồn gốc bắt đầu từ tấm giáp che ngực của thầy tế lễ thượng phẩm được mô tả trong Sách Xuất Hành. Tấm giáp gắn mười hai viên đá xếp thành bốn hàng, mỗi viên tượng trưng cho một chi tộc. Về sau, một số tác giả thời cổ và thời trung đại, trong đó thường được nhắc là sử gia Josephus ở thế kỷ thứ nhất, đã nối mười hai viên đá này với mười hai tháng hoặc mười hai cung trên bầu trời.
Khó ở chỗ tên đá thời cổ không trùng với tên khoáng vật ngày nay. Người xưa gọi tên chủ yếu theo màu, nên một chữ có thể chỉ nhiều loại đá cùng màu. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng viên đá được gọi là “sapphire” trong các văn bản cổ có thể là lapis lazuli, còn các viên đỏ có thể là garnet hay chalcedony đỏ. Vì vậy không có cách nào dựng lại chắc chắn một “bản gốc” để gọi là chuẩn.
Thói quen mỗi người đeo đúng viên đá của tháng mình sinh được cho là xuất hiện muộn hơn nhiều, ở châu Âu vài thế kỷ gần đây. Nhà khoáng vật học người Mỹ George F. Kunz, trong cuốn sách về các truyền thuyết quanh đá quý xuất bản đầu thế kỷ 20, là một trong những người hay được dẫn khi nói về giai đoạn này. Ngay cả ở đây, các tài liệu vẫn chỉ đưa ra giả thuyết, nên khi đọc những câu khẳng định chắc nịch kiểu “tục này có đúng từ năm…”, bạn nên dè dặt.
Các bản danh sách bạn sẽ gặp
Khi so các bảng đá trên mạng hay ở tiệm, phần lớn khác biệt đến từ việc mỗi nơi dùng một bản. Bảng dưới đây gom các kiểu danh sách thường gặp nhất.
| Kiểu danh sách | Ai đưa ra | Đặc điểm | Bạn gặp ở đâu |
|---|---|---|---|
| Bản truyền thống | Hình thành dần qua nhiều thế kỷ ở châu Âu, không có một nơi công bố duy nhất | Mỗi tháng thường một đá; có tháng nhiều nơi ghi khác nhau | Sách cũ, đồ trang sức cổ, bảng “cổ điển” |
| Bản hiện đại của Mỹ | Hiệp hội kim hoàn quốc gia Mỹ công bố năm 1912, về sau được các tổ chức ngành trang sức Mỹ sửa và bổ sung | Có tháng hai, ba lựa chọn; thêm đá mới như tanzanite, spinel | Phần lớn tiệm trang sức, hàng nhập, mạng xã hội |
| Bản của một số nước khác | Giới kim hoàn từng nước, ví dụ Anh | Gần bản Mỹ nhưng lệch ở vài tháng | Hàng châu Âu, tài liệu tiếng Anh của Anh |
| Đá theo cung hoàng đạo | Các sách chiêm tinh phương Tây, nhiều phiên bản | Chia theo cung, không theo tháng dương lịch; danh sách khác hẳn | Hay bị trộn lẫn với đá tháng sinh |
Bản hiện đại của Mỹ được sửa vài lần: năm 1952 bổ sung một số đá như alexandrite cho tháng 6 và citrine cho tháng 11; năm 2002 thêm tanzanite cho tháng 12; năm 2016 thêm spinel cho tháng 8. Nhờ các lần bổ sung này, nhiều tháng có hơn một lựa chọn, và đó là lý do bảng ở tiệm thường dài hơn bảng trong sách cũ.
Bảng đá tháng sinh 12 tháng: hai bản đặt cạnh nhau
Bảng này đặt bản truyền thống thường gặp cạnh bản hiện đại đang lưu hành ở Mỹ. Cột truyền thống chỉ ghi phương án hay gặp nhất, vì mỗi nguồn cũ có thể khác.
| Tháng | Bản truyền thống (hay gặp) | Bản hiện đại (Mỹ) |
|---|---|---|
| 1 | Garnet | Garnet |
| 2 | Thạch anh tím | Thạch anh tím |
| 3 | Huyết thạch (bloodstone) | Aquamarine, huyết thạch |
| 4 | Kim cương | Kim cương |
| 5 | Emerald (ngọc lục bảo) | Emerald |
| 6 | Ngọc trai | Ngọc trai, đá mặt trăng, alexandrite |
| 7 | Ruby | Ruby |
| 8 | Sardonyx | Peridot, spinel, sardonyx |
| 9 | Sapphire | Sapphire |
| 10 | Opal | Opal, tourmaline |
| 11 | Topaz | Topaz, citrine |
| 12 | Ngọc lam, có nguồn ghi lapis lazuli | Ngọc lam, zircon, tanzanite |
Nhìn bảng có thể thấy tám tháng gần như thống nhất, còn tháng 3, 6, 8, 10, 11 và 12 là nơi hai bản lệch nhau hoặc bản hiện đại có thêm lựa chọn. Khi người nhận quà nói “đá tháng của em là…”, bạn nên hỏi họ đang theo bảng nào, hoặc chọn loại đá có mặt ở cả hai bản cho chắc.
Vì sao cùng một tháng mà mỗi nơi nói một đá
Tên đá bị dịch qua nhiều thứ tiếng. Một tên gọi cổ có thể được dịch thành hai loại khoáng vật khác nhau. Sang tiếng Việt lại thêm một lớp nữa: “hồng ngọc” có nơi dùng cho ruby, có nơi dùng cho spinel hay garnet đỏ, nên một bảng dịch vụng có thể đổi hẳn tên đá.
Ngành trang sức thêm đá mới. Các lần bổ sung của bản hiện đại thường đưa vào những loại đá dễ tìm hơn, có nhiều màu hơn hoặc mới được biết đến rộng rãi, như tanzanite. Đây là quyết định của ngành, không phải phát hiện gì mới về tháng đó.
Đá truyền thống mềm hoặc hiếm. Huyết thạch, sardonyx hay ngọc lam không phải ai cũng thích đeo hằng ngày, nên người ta tìm thêm lựa chọn cứng hơn hoặc trong hơn cho cùng tháng.
Bị trộn với đá theo cung hoàng đạo. Cung hoàng đạo không trùng với tháng dương lịch, nên bảng đá theo cung cho kết quả khác. Nhiều bài viết gộp hai thứ làm một, khiến người đọc rối.
Mỗi nước giữ một bản. Giới kim hoàn Anh và một số nước có danh sách riêng, giống bản Mỹ phần lớn nhưng lệch ở vài tháng. Hàng nhập từ nơi nào thường kèm bảng của nơi đó.
Dùng bảng đá tháng sinh khi chọn trang sức
Bảng đá chỉ là điểm xuất phát. Các bước dưới đây giúp bạn đi từ một tên đá trên bảng đến một món đeo được thật.
- Xác định tháng sinh theo lịch dương. Bảng đá tháng sinh dùng tháng dương lịch; nếu người nhận quen tính theo âm lịch, hỏi lại trước khi chọn.
- Xem tháng đó có mấy lựa chọn ở các bản danh sách, ưu tiên loại đá người nhận đã từng nhắc tới hoặc màu họ thích.
- Tra độ bền của loại đá: độ cứng, có dễ mẻ, dễ nứt hay sợ nước, sợ nhiệt không. Từ đó quyết định đeo hằng ngày hay chỉ đeo dịp.
- Chọn kiểu món theo độ bền: đá mềm hợp mặt dây hay bông tai hơn nhẫn; đá cứng thì nhẫn đeo thường ngày cũng ổn.
- Chọn kiểu nạm bảo vệ được viên đá, nhất là với đá giòn hay đá có nhiều vết nứt bên trong.
- Hỏi người bán viên đá là tự nhiên, tổng hợp hay mô phỏng, có qua xử lý không, và đề nghị ghi điều đó trên giấy kèm theo.
- Ghi lại tên đá, kim loại, ngày mua để sau này đem đi vệ sinh, sửa chữa thì tiệm biết cách xử lý.
Nếu loại đá của tháng quá mềm cho kiểu món bạn định làm, có thể chọn một loại đá khác cùng màu, hoặc giữ đúng tên đá nhưng đổi sang món ít va chạm hơn.
Phần nào là văn hoá, phần nào là khoáng vật
Khi đọc về đá tháng sinh, bạn sẽ gặp nhiều lời gắn đá với tính cách, sức khoẻ hay may rủi. Những lời đó thuộc về truyền thuyết và cách quảng bá, không có căn cứ trong khoáng vật học. Trang này không lặp lại chúng. Điều nói chắc được là: một viên garnet tháng 1 vẫn là garnet với độ cứng, màu sắc và cách giữ gìn của garnet, dù người đeo sinh tháng nào.
Phần khoáng vật thì đáng tin hơn và cũng hữu ích hơn khi bạn mua. Biết rằng opal chứa nước và sợ thay đổi nhiệt đột ngột, ngọc lam xốp và dễ ngấm dầu, emerald thường có vết nứt được lấp dầu, bạn sẽ chọn được kiểu món, kiểu nạm và cách cất phù hợp. Những bài tiếp theo trong mục này đi qua từng cặp tháng với đúng tinh thần đó: tên đá theo các bản danh sách, đá ấy là khoáng vật gì, và đeo thế nào cho lâu.
Nói ngắn gọn, đá tháng sinh cho bạn một lý do đẹp để chọn một màu đá; còn khoáng vật học cho bạn cách để màu đá ấy ở lại với người đeo được nhiều năm.
Câu hỏi thường gặp
Đá tháng sinh tính theo lịch âm hay lịch dương?
Các bản danh sách đá tháng sinh đều xuất phát từ phương Tây nên dùng tháng dương lịch. Nếu một người Việt quen nói tháng sinh theo âm lịch, bạn nên đổi sang ngày dương trước khi tra bảng, vì tháng âm và tháng dương thường lệch nhau vài tuần.
Bản danh sách nào là bản chuẩn?
Không có bản nào được cả thế giới công nhận là chuẩn. Bản hiện đại của Mỹ được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, còn bản truyền thống vẫn được nhiều người yêu đồ cổ giữ. Cách an toàn là chọn loại đá có mặt ở cả hai bản, hoặc hỏi người nhận đang theo bản nào.
Đá tháng sinh có giống đá theo cung hoàng đạo không?
Không giống. Cung hoàng đạo chia năm theo vị trí Mặt Trời, mỗi cung vắt qua hai tháng dương lịch, và bảng đá theo cung là một danh sách riêng có nhiều phiên bản. Hai bảng có trùng vài tên đá nhưng không thể dùng thay nhau.
Tháng 4 là kim cương, trang này có viết không?
Kim cương là đá tháng 4 ở cả hai bản danh sách, nhưng trang này tập trung vào trang sức đá màu. Bài về tháng 3 và tháng 4 có nhắc kim cương ở mức ngắn và gợi ý các đá không màu khác cho người muốn một món sáng trong mà không dùng kim cương.
Tặng đá tháng sinh có cần đúng loại đá tự nhiên không?
Tập quán không đòi hỏi điều đó. Nhiều người chọn đá tổng hợp cùng thành phần, hoặc một loại đá tự nhiên khác cùng màu, vì lý do ngân sách hay độ bền. Điều quan trọng là món quà được mô tả trung thực, để người nhận biết mình đang đeo loại đá gì.
Có nên tin các lời giới thiệu về tác dụng của đá tháng sinh?
Những lời gắn đá với sức khoẻ, may mắn hay tính cách thuộc về truyền thuyết và quảng bá, không có cơ sở khoáng vật học. Bạn có thể đọc chúng như câu chuyện văn hoá, còn khi mua thì nên dựa vào tính chất thật của viên đá như độ cứng, độ bền và tình trạng xử lý.